Cách đơn giản cắt cơn say rượu tức thì

Thuốc giải rượu không giải được rượu như ta nghĩ

Theo PGS.TS.BS Bùi Quang Huy, trên thị trường có nhiều loại thuốc giải rượu nhưng hầu như thường kết hợp 2 trong 1 theo hai cơ chế. Thứ nhất, thuốc làm môn vị dạ dày (một cơ vòng nối liền dạ dày với đoạn đầu của ruột non) đóng lại trước khi uống rượu. Theo đó, rượu sẽ nằm trong dạ dày, không bị đi xuống ruột non và khiến người uống có cảm giác không say.

Đến một thời gian nhất định sau khi uống, môn vị dạ dày cần mở ra, rượu sẽ ồ ạt chảy xuống dưới khiến mức độ ảnh hưởng lớn hơn. Lượng rượu trong máu quá cao nên đa số những người uống thuốc giải rượu không thể dậy nổi vào sáng hôm sau.

Thứ hai, thuốc giải rượu góp phần làm chuyển hóa rượu. Về điều này, chuyên gia nhấn mạnh trên thực tế, không có bất cứ loại thuốc nào giúp chuyển hóa rượu nhanh hơn như nhiều người vẫn lầm tưởng.

Những loại thuốc giải rượu được bán ở thị trường, thành phần chính là vitamin nhóm B, vitamin PP, B1, B2, B6. Chúng có thể giúp chuyển hóa nhưng đó là chuyện sau này, không phải tức thì khi uống rượu.

Khi uống thuốc, thuốc sẽ nằm ở dạ dày cùng rượu nên rất khó để hấp thu. Kể cả khi đã được hấp thu, chúng chỉ có tác dụng làm chuyển hóa thuận lợi hơn chứ không phải nhanh hơn. Do đó, trông đợi vào thuốc giải rượu và các loại vitamin là sai lầm.

Riêng vitamin B1, PGS Huy cảnh báo, B1 chỉ được tiêm vào bắp nhưng không phải để giải rượu cho người say mà chỉ tiêm để bệnh nhân thật đau và nhớ, sau không uống rượu nữa. Một lưu ý khác là nếu tiêm B1 qua đường tĩnh mạch sẽ gây sốc và tử vong.

Theo PGS.TS.BS Bùi Quang Huy, Trưởng khoa Tâm thần (Bệnh viện 103), để cắt cơn say đơn giản nhất là nên móc họng nôn ra. Ảnh: minh họa

Móc họng để cắt cơn say nhanh chóng

PGS Huy khuyến cáo các đấng mày râu nên hạn chế uống rượu, nếu uống thì trước đó nên ăn (nhất là các chất đạm, chất béo).

Nếu trót đã uống nhiều thì biện pháp đơn giản nhất để giải rượu là móc họng nôn và uống nước lọc, nếu cảm thấy khó, có thể pha nước chè, nước đường cho dễ uống. Mục đích của việc này là để đi vệ sinh nhiều thải hết rượu ra.

Ở phương Tây, các bác sĩ thường cho uống nước máy trực tiếp để giải rượu cho bệnh nhân. Chỉ cần để qua đêm, lượng rượu sẽ được chuyển hóa hết mà không cần làm gì.

Theo lý giải của PGS. Huy, khi rượu vào máu, thời gian phân hủy là 2 giờ, cứ sau mỗi 2 giờ, nồng độ rượu trong máu giảm đi một nửa. Chúng thải ra bằng các cách chuyển hóa hết ở gan, hô hấp hoặc nước tiểu (10% nguyên vẹn qua nước tiểu).

Giải rượu bằng các loại nước củ, quả

PGS.TS.BS Bùi Quang Huy cũng đưa ra một vài cách giải rượu bằng các loại nước hoa quả như sau:

Lấy lá rau cần rửa sạch, giã nát, vắt nước cốt, pha chút đường uống từ từ. Loại nước này không chỉ giã rượu mà còn giảm đa đầu một cách hiệu quả.

Dùng 100-200 g lá dong (lá dùng gói bánh chưng) giã nát, lấy nước cốt pha đường uống.

Trà búp 5 g, 16 g quất tươi thái vụn (có thể thay bằng quất khô) hãm nước sôi uống.

Uống bột sắn dây có vắt chanh, một lúc sau sẽ tỉnh.

Giã nát củ cải trắng, thêm chút đường, uống nhiều lần.

Ăn các món ăn từ đậu xanh, có thể giã cả vỏ nấu cùng đường.

Lấy quả chanh tươi vắt nước uống, hoặc thái lát mỏng ngậm từ từ.

Thanh Loan (ghi)

Cảm mạo phong hàn và cao xoa liệu pháp

Nguyên nhân do chính khí kém, phong hàn xâm phạm vào phần da, phế làm mất công năng tuyên giáng của phế, kết hợp vệ khí bị trở ngại phát sinh các chứng ho, sợ lạnh, sợ gió, nhức đầu, ngạt mũi, mạch phù khẩn. Người bệnh có biểu hiện sốt nhẹ, sợ lạnh, sợ gió, nhức đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Nếu kèm thêm thấp thì người và các khớp xương đau nhức. Để trị liệu căn bệnh này, Đông y dùng phép chữa là phát tán phong hàn, nếu kèm theo thấp thì thêm trừ phong thấp với 2 nhóm biện pháp chính là không dùng thuốc và dùng thuốc. Không dùng thuốc bao gồm châm cứu, xoa bóp, day bấm huyệt, chích lể, cạo gió... Dùng thuốc bao gồm thuốc uống trong hoặc thuốc xông, xoa, bôi, đắp bên ngoài (nội ẩm ngoại đồ), trong đó không thể không nói đến các loại cao xoa được bào chế bằng nhiều loại dược liệu và dưới nhiều dạng khác nhau nhưng bản chất vẫn là việc sử dụng tinh dầu thiên nhiên - là một loại chất lỏng có hương thơm đặc trưng được chiết xuất từ các loại hoa cỏ hoặc thực vật.

Kết hợp dùng bài thuốc xông với các loại dược liệu.

Kết hợp dùng bài thuốc xông với các loại dược liệu.

Có rất nhiều loại tinh dầu chiết xuất từ dược liệu được sử dụng để phòng chống cảm mạo phong hàn nhưng tinh dầu tràm, tinh dầu quế, tinh dầu bạc hà, tinh dầu long não và tinh dầu hương nhu là thường được dùng hơn cả.

Tinh dầu tràm: chứa cineole đạt ít nhất trên 60%. Ngoài ra còn giàu các terpineol, linalool, limonen. Có tác dụng sát khuẩn đường hô hấp, kích thích trung tâm hô hấp, giảm đau, chống viêm, long đờm..., thường được dùng trong xoa bóp chữa đau nhức, ho, cảm mạọ, dạng xông chữa viêm họng, chữa cảm cúm, hen suyễn, ho gà... Đặc biệt, với mùi hương nhẹ nhàng dễ tạo ra cảm giác thoải mái, tỉnh táo.

Tinh dầu quế: là tinh dầu 1-3% (Dược điển Việt Nam III quy định không dưới 1%) có thành phần chính là aldehyd cinnamic (không dưới 85%). Ngoài ra, thành phần của tinh dầu quế còn gồm các hợp chất như diterpenoid, phenylglycosid, flavonoid, tanin và coumarin. Tinh dầu quế vị cay ngọt, tính ấm, có tác dụng phát hãn giải biểu (làm ra mồ hôi), ôn kinh thông dương, sát khuẩn, kích thích hệ thống thần kinh, tiêu hóa, tăng cường lưu thông máu, thúc đẩy nhu động ruột, dùng đặc biệt tốt cho những trường hợp cảm mạo phong hàn không ra mồ hôi.

Tinh dầu bạc hà: có màu vàng nhạt, mùi hương the mát tinh khiết và đem lại cảm giác sảng khoái khi sử dụng, được chiết xuất hoàn toàn từ cây bạc hà qua phương pháp chưng cất hơi nước, thành phần chính của nó bao gồm có menthol, menthyl acetat, L-pinen, L-menthon, L-limonen, flavonoid. Loại tinh dầu này vị cay, tính mát, có công dụng giải biểu, thanh lợi đầu mắt, lợi hầu thấu chẩn, sát khuẩn, giảm đau thần kinh, hạ sốt làm lỏng chất nhầy, giúp tiêu hóa, kích thích tiết mật, dùng để chữa các chứng bệnh: cảm mạo, ngạt mũi, nhức đầu, đau họng, ho có đờm, đau răng. Ngoài ra, còn dùng để kích thích tiêu hóa, chữa đau bụng đi ngoài.

Tinh dầu long não: có thành phần chính là camphor > 40%. Loại tinh dầu này vị cay, tính ấm, có tác dụng làm ấm cơ thể, giảm đau nhức, mỏi cơ, làm tan vết bầm tím, kích thích hoạt động của thần kinh, cơ tim, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp nói chung.

Tinh dầu hương nhu: có thành phần chủ yếu là eugenol > 60%. Tinh dầu này vị cay, tính hơi ôn, có tác dụng sát khuẩn, làm ra mồ hôi, giảm đau, hạ sốt, cầm máu, tăng lượng máu tới thận lợi thấp, hành thủy, kích thích tiêu hóa, thường được dùng chữa cảm mạo, cảm nắng, nhức đầu, đau bụng, nôn, tiêu chảy, thủy thũng.

Để phòng chống cảm mạo phong hàn, có thể dùng đơn độc một loại tinh dầu hoặc kết hợp vài ba loại với nhau một cách có chọn lọc nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Có nhiều cách dùng khác nhau như khuếch tán bằng đèn xông, nhỏ vài giọt vào cốc nước nóng hoặc thấm vào bông hay giấy ăn để cách mũi 2-3cm để hít ngửi 10-20 phút theo cách ngắt quãng mỗi ngày 3-4 lần, hòa vào nước tắm hoặc bôi xoa vào lòng bàn tay, bàn chân vài ba lần trong ngày...Dùng tinh dầu thiên nhiên giải cảm là một trong những phương pháp thay thế việc dùng nồi lá xông theo cách cổ truyền.

Hiện nay, trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm cổ truyền và bằng công nghệ hiện đại, các nhà dược học đã lựa chọn và kết hợp nhiều loại tinh dầu khác nhau một cách hợp lý và cho ra đời sản phẩm chế từ tinh dầu thiên nhiên dưới dạng cao xoa vừa tăng tính hiệu quả vừa tiện sử dụng bằng cách bôi, xoa, xông, cạo gió...nhằm mục đích trừ phong, thông kinh hoạt lạc, giải cảm, tán tà.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Cá rô phi bổ huyết, dưỡng xương khớp

Tài liệu gần đây cho biết cá rô phi giàu vitamin và khoáng chất, protein, axit béo omega-3, selen, phốt-pho, kali, vitamin B, niacin, vitamin B và axit pantothenic… đều là dưỡng chất rất cần thiết cho sức khỏe…

Theo Đông y, thịt cá rô phi vị ngọt, tính bình, không độc, tác dụng bổ khí huyết, ích tỳ thận, dưỡng xương khớp... Dùng bổ dưỡng cho người già suy giảm trí nhớ, trẻ em còi cọc chậm lớn, thiếu máu, nhức mỏi, đái tháo đường, tăng huyết áp, suy nhược dùng đều tốt. Sau đây là một số món ăn - thuốc từ cá rô phi.

Cá rô phi thơm ngon, có thể chế biến thành nhiều món ngon bổ có tác dụng tăng cường sức khỏe phòng trị nhiều bệnh.

Cá rô phi thơm ngon, có thể chế biến thành nhiều món ngon bổ có tác dụng tăng cường sức khỏe phòng trị nhiều bệnh.

Chữa huyết hư suy giảm trí nhớ: Dùng bài “Lẩu cá rô phi”: cá rô phi, xương heo, nấm rơm, nấm hương, cà chua, đậu phụ, dứa, cà chua, rau ăn cần, hoa lý, giá đỗ, gia vị vừa đủ nấu lẩu ăn. Tác dụng: dưỡng khí huyết, ích ngũ tạng, tăng kháng thể… Trị chứng huyết kém, mệt mỏi, đau đầu chóng mặt, nhức mỏi, ngoại cảm nội thương dùng đều tốt.

Chữa trẻ em còi cọc chậm lớn: Dùng bài “Cháo cá rô phi”: cá rô phi, gạo tẻ ngon, đậu xanh, hành hoa, rau mùi, gừng, hành, mắm, gia vị vừa đủ nấu ăn. Cá rô phi hấp lấy thịt xào mỡ hành cho thơm. Gạo vo sạch nấu cháo, cháo chín nhừ cho cá, rau gia vị vào là được. Tác dụng: Bổ tỳ vị dưỡng khí huyết, ích ngũ tạng… Trị chứng khí huyết hư, trẻ em còi, người lớn mệt mỏi khó lên cân.

Chữa đau nhức xương khớp: Dùng bài “Cá rô phi kho lá lốt”: cá rô phi, lá lốt, hành, tiêu, mắm, gia vị vừa đủ kho nhừ ăn. Tác dụng: dưỡng khí huyết, ích tỳ thận, trừ thấp… Trị các chứng phong thấp nhức mỏi, gân cơ yếu.

Chữa tăng huyết áp: Dùng bài “Canh cá rô om rau cần”: cá rô phi, rau cần, hành tím, tiêu, mắm, muối, dầu ăn, gia vị vừa đủ om ăn. Tác dụng: Kiện tỳ hóa đàm, lợi thấp, hạ áp... Trị chứng đau đầu chóng mặt, khó ngủ, có tuổi suy giảm trí nhớ, suy nhược.

Chữa đái tháo đường: Dùng bài“Cá rô phi nấu canh rau cải”: cá rô phi, rau cải canh, gừng, hành, mắm, muối, dầu ăn gia vị vừa đủ. Cá rô phi hấp hoặc nướng lấy thịt xào mỡ hành cho thơm nấu canh ăn. Tác dụng: Bổ khí huyết, kiện tỳ thận… Trị chứng tỳ vị hư ăn kém, mệt mỏi, đái tháo đường.

Chữa phụ nữ sau sinh ăn kém ít sữa: Dùng bài “Cá rô phi kho nghệ”: cá rô phi, thịt chân giò lợn, nghệ, hành tím, đường, tiêu, mắm muối gia vị vừa đủ kho ăn… Tác dụng: Bổ tỳ vị dưỡng khí huyết, lợi sữa… Trị chứng tỳ hư, mệt mỏi do thiếu đạm

Chữa thiếu máu mệt mỏi: Dùng bài “Canh chua cá rô phi”: cá rô phi, cà chua, dứa, me, giá đậu, rau ngổ, hành lá, ớt, mắm, gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Tác dụng: bổ khí huyết, ích tỳ thận… Trị chứng suy nhược ăn kém, chứng vàng da thấp nhiệt.

Lương y Minh Phúc

Học thuyết thủy hỏa của Hải Thượng Lãn Ông

Tại sao lại gọi là “Học thuyết Thủy hỏa”?

Học thuyết thủy hỏa hay còn gọi là học thuyết tâm thận, được Hải Thượng Lãn Ông xây dựng dựa trên cơ sở của các học thuyết âm dương, ngũ hành, tạng tượng của YHCT Đông phương. Với thuyết âm, dương, thủy thuộc nước thuộc âm, hỏa thuộc lửa thuộc dương, với thuyết ngũ hành, thủy hỏa lại là hai hành tương khắc với nhau, với thuyết tạng tượng, hai tạng tâm, thận lại nằm trong phạm vi “ngũ tạng”. Tuy nhiên chúng lại thường xuyên có sự giao nhau trong cuộc sống, hai thứ đó luôn có mối quan hệ hữu cơ, ví như ánh sáng của mặt trời là nguồn gốc tạo ra sức sống của muôn vật, nước thì nuôi sống muôn loài. Cuộc sống không thể thiếu một trong hai thứ đó. Trên cơ sở như vậy, Hải Thượng Lãn Ông lấy sự cân bằng của hai tạng tâm thận trong cơ thể làm gốc với nguyên tắc “Giáng tâm hỏa và ích thận thủy”. Ông cho rằng “Con người cũng như vũ trụ, muốn tồn tại, phải có hỏa”, cái hỏa trong con người trước hết thuộc tạng tâm (quân hỏa), tiếp theo là cái hỏa của thận (tướng hỏa). Hai thứ hỏa này luôn được cân bằng với phần “thủy” của tâm huyết: Phần âm của tâm và thận thủy: thận âm. Hải Thượng cho rằng, bệnh tật phát sinh trong con người là do sự thiên lệch của thủy và hỏa, tức có sự mất cân bằng của hai tạng tâm và thận. Ông cho rằng “chữa bệnh nặng không biết đến thủy, hỏa; chữa bệnh nhẹ không biết đến khí huyết thì chẳng khác chi trèo cây tìm cá”.

Hải Thượng Lãn Ông.
Vận dụng của thuyết Thủy hỏa!

Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, đối với người mà chân dương thịnh thì phải bổ âm, người chân âm thịnh thì phải bổ dương; tuy vậy khi bổ âm phải kèm theo vị bổ dương để không ảnh hưởng đến tỳ vị. Thông thường để bổ âm, Hải Thượng khuyên dùng phương lục vị; còn khi bổ nguyên khí củng cố chân hoả của thận thì dùng phương bát vị. Còn người âm dương đều hư thì ông khuyên dùng phương thập toàn đại bổ.

Ngoài ra, Hải Thượng đã vận dụng phép biến phương vào hai phương lục vị và bát vị để tạo ra tới hơn 50 phương thuốc khác nhau để trị rất nhiều loại bệnh tật trong cơ thể. Chẳng hạn từ phương “lục vị”, một cổ phương do Trương Trọng Cảnh danh y đời nhà Hán xây dựng, gồm thục địa 8 lạng, phục linh, đan bì, trạch tả, mỗi vị 3 lạng, sơn thù du, hoài sơn, mỗi vị 4 lạng. Các vị luyện mật ong làm hoàn ngày uống 12 -16g, dùng để chữa thận âm hư, tinh khô, huyết kiệt, đau lưng, mỏi gối, hoa mắt ù tai, tiêu khát. Hải Thượng đã gia thêm cúc hoa, kỷ tử mỗi thứ 3 lạng vào phương “lục vị” tạo ra phương Kỷ cúc địa hoàng hoàn, trị thận âm hư gây hoa mắt, thị lực giảm. Cũng với cách làm tương tự, ông gia đương quy, bạch thược, kỷ tử, cúc hoa, thạch quyết minh, bạch tật lê vào Lục vị để có phương Minh mục địa hoàng hoàn, trị mắt khô, quáng gà, giảm thị lực.

Đối với cổ phương bát vị hoàn: thục địa 8 lạng, sơn thù du, hoài sơn, mỗi vị 4 lạng, đan bì, trạch tả, phục linh, mỗi vị 3 lạng, phụ tử, nhục quế, mỗi vị 1 lạng. Các vị luyện mật ong làm hoàn ngày uống 12-16g, dùng để bổ thận dương, trị chứng mệnh môn suy, người gầy, lưng gối đau lạnh tiểu không lợi hoặc không kiềm chế được. Tiểu đêm nhiều lần, Hải Thượng đã dùng quế chi thay quế nhục để có phương Kim quỹ thận khí hoàn, trị phù do thận, khí huyết bị ứ trệ. Bát vị hoàn gia ngưu tất, xa tiền thành Tế sinh thận khí hoàn, trị thuỷ thũng, phù nề, bụng đầy trướng.

Học thuyết Thủy hỏa của Hải Thượng Lãn Ông không những vừa mang tính sáng tạo, tính thực tiễn mà còn mang tính khoa học của thời đại.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Bài thuốc trị đau nhức khớp

Ðau nhức các khớp thuộc phạm vi chứng tý của y học cổ truyền. Nguyên nhân do vệ khí của cơ thể không đầy đủ; phong, hàn, thấp nhiệt xâm phạm vào cân, cơ, khớp xương, kinh lạc làm sự vận hành của khí huyết tắc lại gây nên. Hoặc do người già can thận bị hư, hoặc bệnh lâu ngày làm khí huyết giảm sút dẫn đến can thận hư, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân làm khớp xương bị thoái hóa, biến dạng...

Người bệnh thường đau mỏi các khớp; khi thời tiết lạnh, mưa, ẩm thấp, đau tăng lên hoặc tái phát, lâu ngay trở thành mạn tính. Tùy theo triệu chứng lâm sàng mà phân ra các thể: phong tý, hàn tý, thấp tý. Phương pháp chung là khu phong tán hàn trừ thấp. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể.

Tần giao là rễ khô của các cây họ long đởm.

Đau nhức khớp do phong tý hay hành tý: Nguyên nhân do phong là chính. Người bệnh có triệu chứng đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp, sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù. Phép chữa: khu phong là chính, tán hàn trừ thấp, hoạt huyết hành khí. Dùng một trong các bài:

Bài 1:Phòng phong thang gia giảm: phòng phong, khương hoạt, bạch thược, đương quy mỗi vị 12g; tần giao, quế chi, phục linh, ma hoàng mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống.

Bài 2: thổ phục linh, ké đầu ngựa, hy thiêm, rễ vòi voi, mỗi vị 16g; uy linh tiên, tỳ giải, ý dĩ, cam thảo nam, mỗi vị 12g; quế chi, bạch chỉ, mỗi vị 8g. Sắc uống.

Đau nhức khớp do hàn tý hay thống tý: Nguyên nhân do hàn là chính. Người bệnh đau dữ dội ở một khớp, trời lạnh đau tăng, chườm nóng thì đỡ, tay chân lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn hoặc nhu hoãn. Phép chữa: tán hàn là chính, khu phong trừ thấp, hành khí hoạt huyết. Dùng một trong các bài:

Bài 1: quế chi, can khương, thiên niên kiện, ngũ gia bì, ngưu tất, xuyên khung, mỗi vị 8g; rễ cây lá lốt, ké đầu ngựa, ý dĩ, mỗi vị 12g. Sắc uống.

Bài 2: quế chi, can khương, phụ tử chế, thiên niên kiện, uy linh tiên, thương truật, xuyên khung, ngưu tất, mỗi vị 8g; ý dĩ 12g. Sắc uống.

Bài 3:Ô đầu thang gia giảm: phụ tử chế, ma hoàng, bạch thược, hoàng kỳ, phục linh, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống.

Thương truật.

Thương truật.

Đau nhức khớp do thấp khớp hay trước tý: Người bệnh nhức mỏi các khớp, đau một chỗ, tê bì, đau các cơ, bệnh lâu ngày làm người bệnh khó vận động, miệng nhạt, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoãn, người nặng nề mệt mỏi. Phép chữa: trừ thấp là chính, tán hàn khu phong, hành khí hoạt huyết. Dùng một trong các bài:

Bài 1: Ý dĩ nhân thang gia giảm: ý dĩ 16g; hoàng kỳ, đảng sâm, mỗi vị 12g; thương truật, ma hoàng, quế chi, khương hoạt, độc hoạt, phòng phong, ô dược, xuyên khung, ngưu tất, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống.

Bài 2: ý dĩ, tỳ giải, mỗi vị 16g; ngũ gia bì, rễ cỏ xước, xuyên khung, đan sâm mỗi vị 12g; rễ cây lá lốt 8g; quế chi, bạch chỉ mỗi vị 6g. Sắc uống.

Lương y Đình Thuấn

Thuốc giảm đau thời cổ đại

Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học cho thấy tổ tiên của chúng ta đã biết sử dụng các phương pháp giảm đau từ cây cỏ hiệu quả.

Cây kỳ nham

Cây kỳ nham (henbane) được sử dụng như một loại thuốc gây mê từ thời cổ đại. Loại cây này có chứa atropine (dùng làm thuốc giãn cơ) và scopolamine (dùng để ngăn ngừa nôn mửa, gây buồn ngủ). Cây kỳ nham được dùng từ thế kỷ thứ nhất sau CN để làm thuốc giảm đau. Ở Thổ Nhĩ Kỳ cổ đại, henbane được gọi là beng, chế thành thuốc viên hoặc hun khói dùng làm thuốc giảm đau răng, đau tai, khử trùng miệng.

Châm cứu

Châm cứu bắt nguồn từ thời đại đồ đá với những cách chữa bệnh đơn giản như dùng gai, que nhọn, xương thú, đá nhọn để trích một điểm trên da để giảm đau. Lâu dần, qua kinh nghiệm thực tiễn, người ta xác định được các điểm cần tác động khi muốn chữa một chứng bệnh. Quyển sách được coi là xưa nhất về châm cứu là cuốn “Nội kinh linh khu” viết cách đây gần 3000 năm (770-221 trước CN). Tại Châu u, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, phương Tây đã biết đến châm cứu nhưng châm cứu học không thể phát triển được ở đây. Tuy nhiên, khoa học hiện đại chứng minh châm cứu có hiệu quả giảm đau, gây tê như morphin.Cà độc dược.

Cà độc dược.

Cây khoai ma (mandragora)

Đây là một trong những thuốc gây mê đầu tiên làm cho người bệnh bất tỉnh. BS người Hy Lạp Dioscorides (49-90 sau CN) đã viết về tác dụng của rượu được nấu từ cây này gây ra giấc ngủ sâu giúp các bệnh nhân trải qua phẫu thuật mà không cảm thấy đau đớn. Đến thế kỷ 13, ở Italia, các thầy thuốc đã giới thiệu việc sử dụng miếng bọt biển ngâm trong dung dịch hòa tan mandragora, để lên mũi của bệnh nhân khiến bệnh nhân không còn cảm giác đau đớn.

Cà độc dược

Cà độc dược chứa nhiều alcaloid, chủ yếu là scopolamine (chất gây ảo giác mạnh) có tác dụng ngăn suyễn, giảm ho, chống đau, chống co giật. Loại cây này được xếp vào bảng có độc tính cao, thành phần alcaloid có khả năng hủy phó giao cảm, tạo ảo giác mạnh, gây mê sảng, hoang mang khiến con người không phân biệt được thực tế và ảo giác. Dùng cà độc dược liều cao, đặc biệt là hoa và lá có thể dẫn đến ngộ độc, mê sảng kéo dài, mất trí nhớ, thậm chí tử vong.

Ethylene

Theo ghi nhận trong sử sách, loại khí ethylene được sử dụng bởi nữ tu sĩ có tên là Pythia. Bà được mệnh danh là nhà tiên tri của Delphi và tu luyện tại đền thờ thần Apollo, Hy Lạp cổ đại. Tương truyền bà hít khí này vào sẽ có sức mạnh dự báo tương lai. Kể từ đó, khí này được sử dụng rộng rãi bởi các nhà tiên tri khác. Năm 1930, ethylene được ca ngợi như một thuốc gây mê toàn thân mới. Nó sẽ thay thế chloroform - chất này gây tác động hậu phẫu nghiêm trọng như tử vong đột ngột, buồn nôn sau phẫu thuật.

Cây cải cần thuộc họ diên hồ (Corydalis)

Ở Trung Quốc cổ đại, củ và rễ cây corydalis được đào lên đun sôi trong dấm và dùng để giảm đau đầu, đau lưng. Là họ hàng của cây anh túc, cây corydalis chủ yếu phát triển ở miền Trung Trung Quốc. Theo các nhà khoa học hiện đại, loại cây này có tác dụng giảm đau vì nó chứa dehydrocorybulbine (DHCB) - có tác dụng giảm đau mà không gây nhờn thuốc.

Cây liễu (willow)

Trong nhiều thế kỷ, vỏ cây liễu được sử dụng như một chất giúp giảm đau hiệu quả, đặc biệt là vỏ cây liễu trắng. Ebers Papyrus - một tập hợp các văn bản y khoa từ năm 1500 TCN mô tả việc sử dụng vỏ cây liễu như loại thuốc giảm đau. Người Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại cũng sử dụng vỏ cây liễu cho mục đích này. Nghiên cứu hiện đại cho thấy vỏ cây liễu là thuốc giảm đau hiệu quả vì chứa salicin - một chất tương tự như aspirin - nhưng sử dụng vỏ cây liễu ở liều thấp hiệu quả hơn aspirin. Do hiệu quả của nó, phương pháp điều trị này vẫn được sử dụng hàng thế kỷ nay trong giảm đau do đau đầu, đau lưng và viêm xương khớp.

Minh Huệ

((Theo LS, 2017))

Phong cước khí và phép chữa

Phong cước khí là do cảm nhiễm phải khí phong thấp với các triệu chứng: sợ gió, các khớp xương đau nhức, từ chân đến đầu gối đau mỏi và sưng không đi lại được, có khi ngoài da tê dại, cấu vào không biết đau, mạch phù, hoãn. Phép chữa là tuỳ theo tiến triển của bệnh.

Đau nhức xương khớp (từ bàn chân đến đầu gối) - Một biểu hiện của phong cước khí.

Khi bệnh mới mắc, người bệnh sợ gió, các khớp xương đau nhức. Phép chữa là bổ chính khu tà. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: trúc lịch, tần giao, hoàng cầm, phòng kỷ, quế tâm, cam thảo, cát căn, ma hoàng, tế tân, can khương mỗi vị 4g; phòng phong, thăng ma mỗi vị 6g; phục linh, phụ tử mỗi vị 8g, hạnh nhân 50 hạt. Các vị sắc với 5 bát nước, cạn còn 2 bát, bỏ bã, chia uống làm 2 lần. Nên uống bài này khi bệnh mới phát.

Bài 2: cúc hoa 40g; cam thảo, nhân sâm mỗi vị 20g; thiên hùng, thạch hộc mỗi vị 18g; tục đoạn, trạch tả, tế tân, thạch vi, xương bồ, phục linh, phòng phong, can khương, hoài sơn, hoàng kỳ, viễn chí, tần giao, ngưu tất, đỗ trọng, sinh địa, bạch truật, tỳ giải mỗi vị 12g; ô đầu 6g. Các vị tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân, hòa với rượu nóng, uống ngày 3 lần. Nếu chưa khỏi thì mỗi lần uống thêm lên 2 đồng cân. Công dụng: khu phong tán hàn, bổ chính giúp bệnh khỏi mà chính khí không bị tổn thương.

Khi các khớp xương đều đau nhức, từ chân đến đầu gối tê dại và sưng, mạch phù, hoãn: Phép chữa là khu phong tiết tà. Dùng một trong các bài:

Bài 1: ma hoàng 4g, cát căn 8g, hoàng cầm 8g, phòng kỷ 12g, trúc lịch 40g (để riêng), phòng phong 8g, tần giao 8g, phục linh 20g, hạnh nhân 12g, cam thảo 2g. Đổ 6 bát nước vào ấm, sắc trước với ma hoàng cho cạn còn 4 bát, gạt bỏ bọt, cho các vị khác vào, sắc còn 1 bát rưỡi. Trúc lịch giã nát, cho nước vào khuấy đều, lọc lấy nước, cho vào nước thuốc trên, đun sôi kỹ, uống nóng 1 lần.

Sinh khương (gừng tươi) - một vị thuốc chữa cước khí.

Bài 2: khương hoạt 6g, phòng phong 6g, hoàng cầm 6g, cam thảo 2g, bạch linh 12g, mộc qua 8g, hoàng liên 4g, hoàng bá 4g, qua lâu 12g, sài hồ 6g, trạch tả 12g, mộc hương 4g. Các vị sắc với 4 bát nước còn 1 bát, uống 1 lần.

Thời kỳ bệnh nặng có nôn ọe, suyễn và đầy, tức là “cước khí xung tâm”: uống ngay bài Thù du mộc qua khương hoạt thang gồm ngô thù du 4g, binh lang 12g, khương hoạt 12g, mộc qua 6g, sinh khương 5 lát. Các vị sắc với 4 bát nước còn 1 bát, uống 1 lần.

Chứng bệnh này nếu không chữa ngay, dần dà khí độc lên tới thiên phúc, da thịt nơi đó cấu không biết đau, chỉ trong vòng 4-5 ngày sẽ phát sinh chứng nôn ọe, suyễn và đầy; rất khó chữa.

Lương y Thảo Nguyên